* Người con trai thứ 8 của cụ Đảm tức là người
con trai thứ 4 của cụ Bà Hai tên là Nguyễn
Đức Châu cụ là một tấm gương về cách sống, làm việc và học tập cho con cháu.
Ông sinh 06 – 10 -1926, hiện nay ông vẫn
khỏe – thọ 71 tuổi. Ông có 2 bà vợ : vợ cả là Ngô Thị Đối mất 21 – 09 –
1966 năm đó bà mới 27 tuổi. Bà sinh được
3 người con gồm 2 trai và 1 gái.
Kế
mẫu là bà là cụ bà Hoàng Thi Liêm bà
sống và làm việc hết sức vì con cháu và luôn được con cháu yêu quí. Bà hiện nay 74 tuổi vẫn còn khỏe mạnh, bà sinh
được 4 người con : 2 trai + 2 gái. Như vậy cả 2 bà sinh được 7 người con gồm 4
trai và 3 gái cụ thể là :
·
Con trai Nguyễn Đức Đoàn sinh năm 1950
·
Con trai Nguyễn Đức Việt sinh
năm 1953
·
Con trai Nguyễn Đức Lưu sinh năm 1960
·
Con trai Nguyễn Đức Hạnh sinh năm 1966
·
Con gái Nguyễn Thị Gái sinh năm 1950
·
Con gái Nguyễn Thị Phong sinh năm 1963
·
Con gái Nguyễn Thị Luyến sinh năm 1965
Ông
sinh thêm được 1 người con gái Nguyễn
Thị Bích các con của ông bà có Nguyễn
Thị Gái mất năm 1966 mới sơ sinh còn nói chung các con của ông bà đều hạnh
phúc, mạnh khỏe và vương chưởng cả rồi cụ thể là :
·
Anh Nguyễn
Đức Đoàn sinh năm 1950 và mất vào 10 -1991 hưởng thọ 41 tuổi – vợ anh là
Nguyễn Thị Quý sinh 1949. Chị sinh được
5 người con gồm 3 trai và 2 gái cụ thể là :
·
Con gái Nguyễn Thị Loan
·
Con trai Nguyễn Đức Hoan
·
Con gái Nguyễn Thị Huyên
·
Con trai Nguyễn Đức Hùy
·
Con trai Nguyễn Đức Hiếu
v
Con gái cả của cụ Nguyễn Thị Loan sinh năm 1969 đã có chồng là Vũ Chí Đương sinh năm 1967
sau đó sinh được 2 cháu ngoại là Vũ
Trí Đăng sinh năm 1990 + Vũ Chí Khoa
sinh năm 1993.
v
Con trai thứ 2 là Nguyễn Đức Hoan sinh năm
1971 đã có vợ là Lê Thị Lụa sinh
năm 1970 sau đó sinh được 2 người con gồm 1 con trai là Nguyễn Đức An sinh năm 1990 và 1 con gái là Nguyễn Thị Thu Hiền sinh
năm 1996. Là cháu nội của anh chị
và chắt nội của ông bà. Đến năm 2012 kinh tế đã ổn định.
v
Con gái Nguyễn Thị Huyên
sinh năm 1977 đã có chồng là
Hoàng Văn Sơn sinh năm 1971 và đã có
2 cháu trai là Hoàng Thanh Mạnh
sinh năm 1997 và Hoàng Văn Dũng
sinh năm 2000.
v
Con trai Nguyễn Đức Hùy sinh năm 1978 lấy vợ năm 2006 tên là Triệu Thị
Ngọc Anh sinh năm 1978 sau đó sinh được 2 người con Nguyễn Triệu Đức Huy
sinh năm 2007 mập mạp, khỏe mạnh và Nguyễn Triệu Đức Phát sinh năm 2009.
v
Con trai Nguyễn Đức Hiếu sinh năm 1980 lấy vợ năm 2011 tên là Võ Thị Hằng
sinh năm 1979. Năm 2012, anh đang
công tác tại Quân Khu 7 và là Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam, vợ làm kế
toán tại Bình Dương.
Do bệnh tật anh Nguyễn Đức Đoàn mất năm 1991. Lúc đó anh 42 tuổi, gia đình anh
tương đối ổn định, nhà cửa gọn gàng.
Hiện nay, các con đều ổn định về kinh tế, các
cháu đều được đi học đầy đủ. Vợ bác hiện đang ở cùng với anh Nguyễn Đức Hoan
tại số nhà 125 - Ấp 1 – Tổ 7 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương. Trong các cháu
hiện nay có cháu Khoa và Cháu Hiền học rất giỏi.
Hiện tại anh Nguyễn Đức Hoan là cháu trưởng có
nhiệm vụ cúng các cụ nội tộc trong gia đình.
·
Anh Nguyễn
Đức Việt sinh năm 1951 vợ anh là Nguyễn Thị Tới sinh năm 1954 chị sinh được
4 người con gồm 3 trai và 1 gái cụ thể là :
·
Con trai Nguyễn Đức Nam
·
Con trai Nguyễn Đức Ninh
·
Con trai Nguyễn Đức Giang
·
Con gái Nguyễn Thị Hồng
v
Con trai đầu của chị Nguyễn Đức Nam
mất năm 1991 do bệnh liên quan đến thần kinh. Lúc đó cháu mới 15 tuổi. Ngày giỗ 21 -12 hàng năm.
v
Con trai Nguyễn Đức Ninh sinh năm 1978 học phổ thông hết lớp 5 rồi nghỉ tham
gia lao động sản xuất cùng với gia đình. Vào năm 2008 anh bị phát hiện mắc bệnh
Ung thư phổi và hạch lao, nhưng nhờ gia đình chữa trị đến năm 2009 anh đã khỏe
mạnh trở lại. Kết hôn năm 1999 với vợ tên là Nguyễn Thị Hương sinh năm 1983.
Chị sinh được 2 cháu trai là Nguyễn Đức Thành sinh năm 2000 và Nguyễn Đức Công
sinh năm 2005 cháu học rất giỏi.
v
Con trai Nguyễn Đức Giang sinh năm 1981 kết hôn vào năm 2010 với chị Đỗ
Thị Hường sinh năm 1983. Sinh được cháu trai bụ bẫm Nguyễn Gia Minh năm
2010. Hiện nay anh chị là Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam và anh đang công
tác tại UBND Xã Tân Hiệp – Phú Giáo - Bình Dương còn chị đang công tác tại UBND
Huyện Phú Giáo – Bình Dương.
v
Con gái Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1983 kết hôn năm 2010 với anh Đỗ Quốc Vũ
sinh năm 1982. Anh chị sinh được bé gái Lâm Khả Vy. Hiện nay chị đang là Đảng
viên đảng Cộng Sản Việt Nam
và công tác tại Trường Mầm non Tân Hiệp.
Vào năm 2001 Anh Nguyễn Đức Việt phát hiện mắc
phải bệnh Ung thư trung thất, gia đình đã chạy chữa nhiều nơi từ nam ra Bắc
nhưng chỉ kéo dài tuổi thọ của anh đến ngày 10 – 07 - 2006.
Hiện nay các con anh đều có nhà cửa hoàn chỉnh
gọn gàng, kinh tế khá ổn định. Con cháu sung túc. Gia đình đang cư ngụ tại Ấp 1
– Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.
·
Anh Nguyễn
Đức Lưu sinh năm 1960. Hiện nay anh
53 tuổi khỏe mạnh anh là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam công tác chính quyền và hiện đang giữ
chức Chủ tịch Ủy Ban xã, trực tiếp làm trưởng công an xã Tân Hiệp – huyện Phú Giáo – tỉnh Bình Dương. Anh vào Miền Nam
làm kinh tế năm 1987 tại Tân Hiệp – Đồng Phú – Sông Bé, sau đó thấy được đây là
vùng đất màu mỡ, đất rộng người thưa, tiềm năng kinh tế tốt nên đã vận động anh
em nội ngoại 2 bên cùng vào làm kinh tế. Đến nay, các gia đình anh em nội ngoại
đều ổn định về kinh tế, có của ăn của để và con cháu sung túc. Vợ anh là Đoàn Thị Tâm – 49 tuổi, hiện nay vẫn
khỏe mạnh, chị là hậu phương vững chắc của gia đình và sống theo những điều
Phật dạy, chị cũng dạy bảo các con và cháu hướng Phật để có cuộc sống bình an
và sung túc. Chị sinh được 3 người con gồm 2 trai và 1 gái cụ thể là :
·
Con trai Nguyễn Đức Hà sinh năm 1985, anh học hết THPT sau đó theo học về
Chuyên ngành máy tính vào năm 2007. Năm 2010 anh kết hôn với chị Dương Thị
Trang sinh năm 1993 sau đó anh chị phụ giúp bố mẹ công việc nương rẫy của
gia đình.
·
Con trai Nguyễn Đức Hiệp sinh năm 1987, anh tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Kỹ
Thuật TPHCM vào năm 2010 sau đó thành lập công ty và tự kinh doanh ở Thủ Đức –
TPHCM.
·
Con gái Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1989, chị tốt nghiệp Đại học Công Nghệ
Thông Tin Gia Định vào năm 2011.
v
Các
con đều khỏe mạnh được học hành đến nơi đến chốn. Gia đình hiện nay khá ổn
định, nhà cửa xây tương đối kiên cố gọn gàng. Tiện nghi sinh hoạt tương đối đầy đủ - một
trọng trách lớn đối với gia đình anh là con trai thứ ba nhưng anh chị nhận nuôi
bố mẹ và lo những ngày giỗ tết các cụ khi bố mẹ còn sống ( vì bố là con trưởng
).
·
Anh Nguyễn
Đức Hạnh sinh năm 1964 vợ anh là Ngô
Thị Thà sinh năm 1968. Hiện nay vẫn mạnh khỏe, chị sinh được 3 người con
gồm 2 trai và 1 gái cụ thể là :
·
Con gái Nguyễn
Thị Hằng sinh năm 1986, được học hành đầy đủ hiện nay đang công tác tại Trung
tâm y tế dự phòng Quận 9 - TPHCM
·
Con trai Nguyễn Đức Phước 1988 cùng bố mẹ chuyển từ Phú Giáo – Bình Dương lên
Krong Nang – Daklak để trồng café, lấy vợ năm 2011. Vợ anh tên là Lê Thị Nga
sinh năm 1992.
·
Con trai Nguyễn Đức Tiến sinh năm 1991, hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào cuối
năm 2011. Hiện đang ở cùng gia đình ở Daklak
v
Hoàn
cảnh gia đình anh chị hiện nay cũng tương đối ổn định. Xây dựng nhà cửa đàng hoàng, khang trang kinh
tế khá ổn định. Hiện nay gia đình đang
ngụ tại Thon Quyết Tâm – Xã Eatan – Krong Nang – Dak Lak
·
Chị Nguyễn
Thị Phong 37 tuổi, chồng chị là Ngô
Minh Kỉu 36 tuổi. Hiện nay anh chị
vẫn mạnh khỏe cả chị sinh được 2 người con trai là
·
Con trai Ngô Minh Long
·
Con trai Ngô Minh Ngọc
v
Các con chị hiện nay đều mạnh khỏe cả. Con
trai Long của chị lao động rất ngoan và khỏe, con trai Ngọc hiện nay đang học
lớp 4 phổ thông. Gia đình anh chị hiện
nay tương đối ổn định, tuy nhà cửa chưa làm được nhưng căn cứ vào tiềm lực và
khả năng, tư liệu của anh chị thì có đủ điều kiện để xây dựng vào những năm tới.
·
Chị Nguyễn
Thị Luyến sinh năm 1964 49 tuổi chồng chị là Nguyễn Văn Dâu sinh năm
1961 tại xã Đức Giang – Yên Dũng – Hà Bắc 52 tuổi vợ chồng anh chị vào
miền nam làm kinh tế theo anh chị năm 1996 tại xã Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình
Dương, vợ chồng anh chị đều mạnh khỏe cả và chị sinh được 4 người con 3 gái + 1
trai cụ thể là :
·
Con gái Nguyễn Thị Lan sinh năm
1982 ở nhà phụ bố mẹ từ sớm nên phải nghỉ học, lập gia đình vào năm 2003 với anh Nguyễn Văn Quý
sinh năm 1982 ở cùng quê. Sau đó anh chị sinh được 2 người
con, Nguyễn Thị Thanh Thảo sinh năm 2006 và Nguyễn Tiến Dũng sinh năm 2009.
·
Con gái Nguyễn Thị Phương sinh năm 1985 được học hành đầy đủ sau đó học theo ngành Y vào năm 2007, khi hoàn thành
khóa học chị lập gia đình với anh Tạ Văn Nhàn sinh năm 1978 ở cùng quê. Anh chị
sinh được 1 người con tên là Tạ Nguyễn
Phúc Nguyên vào năm 2010.
·
Con trai Nguyễn Văn Hùng sinh năm
1987 được học hành đầy đủ, hiện tại đang theo học tại Trường Đại học Công
Nghiệp TPHCM.
·
Con gái Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1989, được học hành đầy đủ, tốt nghiệp Cao Đẳng
Công Thương năm 2010 và làm việc tại TPHCM.
v
Các con của chị hiện nay đều được ăn học
đến nơi đến chốn riêng có con gái Lan nghỉ học tham gia lao động sản xuất với
bố mẹ. Gia đình chị thuộc vào khá ổn
định kinh tế hàng năm đủ ăn có dư chút ít. Nhà cửa xây dựng tương đối kiên cố gọn gàng cả
rồi. Tiện nghi sinh hoạt anh chị mua sắm
toàn những thứ gỗ quí thuộc loại thứ thiệt cả. Hiện nay anh chị đang sống cùng
các con tại số 13 – tổ 3 - ấp 2 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.
·
Chị Nguyễn
Thị Bích sinh năm 1967. Hoàn cảnh chị trái ngang, gia đình chị ở xa anh em
dòng họ nên kinh tế không phát triển nhiều. Chồng chị là Ngụy Văn Thư. Chị sinh được
3 người con gái :
·
Con gái Ngụy Thị Nga
·
Con gái Ngụy Thị Hương
·
Con gái Ngụy Thị Giang
v
Gia đình chị hiện đang ở Đaklak, đến năm
2010 các con của chị đều đã lập gia đình, theo chồng và tương đối khá giả hơn
bố mẹ.
·
Chị Nguyễn Thị
Gái sinh vào 07 – 1966 đến 02 – 1967 mất lúc đó mới hơn 7 tháng. Ngày giỗ
08 – 02 hằng năm.
* Con trai
thứ 3 của cụ là Nguyễn Đức Thái sinh
năm 1929 năm 2012 cụ vẫn khỏe thọ 84 tuổi. Vợ ông là bà Lê Thị Quy. Ông
bà sinh được 7 người con 3 trai và 4 gái
cụ thể là :
·
Nguyễn Đức
Lâm sinh năm 1958
·
Nguyễn Đức Tuấn sinh năm
1964
·
Nguyễn Đức
Tình sinh năm 1970
·
Nguyễn Thị
Thanh sinh năm 1961
·
Nguyễn Thị
Bé sinh năm 1965
·
Nguyễn Thị
Hữu sinh năm 1968
·
Nguyễn Thị
Chung sinh năm 1974
Đến nay các con trai gái của ông đều đã
vương chưởng, có gia đình riêng và đều đã có con cái cả rồi như :
·
Anh Nguyễn Đức
Lâm sinh năm 1958 vợ anh là Nguyễn
Thị Vui sinh năm 1958 là người cùng làng anh chị được 4 người con 3 trai và
1 gái cụ thể là
v
Nguyễn Đức
Anh Trường sinh năm 1983
v
Nguyễn Đức
Ba sinh năm 1986
v
Nguyễn Đức
Quỳnh sinh năm 1991
v
Nguyễn Thị
Bẩy sinh năm 1989
Các cháu
của anh chị đều đã trưởng thành, đến năm 2005 anh cả đã lập gia đình với chị
Trần Thị Châm là người cùng xã sinh được người con tên là Nguyễn Thị Lan Ngọc
vào văm 2006, hiện tại anh chị đang lập nghiệp tại Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình
Dương, còn các em vẫn đi học. Anh mắc bệnh Ung thư đường ruột năm 2006, gia
đình tận tình cứu chữa nhưng đến năm 2007 anh mất vào ngày 13 – 03. Chị và các
con hiện tại đang cứ ngụ tại Lục Nam
- Bắc Giang.
·
Anh Nguyễn Đức Tuấn
sinh năm 1964 vợ anh là Nguyễn Thị Viễn
sinh năm 1964 anh chị được 5 người con 3 gái và 2 trai cụ thể là
v
Nguyễn Thị
Giang sinh năm 1987
v
Nguyễn Thị
Vân sinh năm 1989
v
Nguyễn Thị
Phương sinh năm 1991
v
Nguyễn Đức
Thanh Nam
sinh năm 1993
v
Nguyễn Đức
Dương sinh năm 1999
Riêng có cháu Phương là con gái thứ
3 của anh chị mất năm 1996 lúc cháu mới 4 tuổi. Còn các cháu khác còn lại khỏe mạnh và đang đi
học phổ thông. Hiện tại gia đình anh đang cư ngụ tại số 148 - tổ 7 - ấp 1 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình
Dương. Kinh tế gia đình khá giả và con cái được học hành đầy đủ.
·
Anh Nguyễn Đức
Tình sinh năm 1970 vợ anh là Đỗ Thị Họa sinh năm 1971 anh chị được 3 người
con 2 gái và 1 trai cụ thể là.
v
Nguyễn Thị
Ánh sinh năm 1993
v
Nguyễn Đức
Tân sinh năm 1995
v
Nguyễn Thị
Thu Uyên sinh năm 2006
Hiện tại gia đình đang cư ngụ tại
số 3 - ấp 2 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình
Dương. Các cháu đều khỏe mạnh và đang đi học, kinh tế gia đình tương đối khá
giả, có của ăn của để.
·
Chị Nguyễn Thị
Thanh sinh năm 1961, chồng chị là Phạm
Văn Năm sinh năm 1963 anh chị sinh được 4 người con 3 gái và 1 trai cụ thể
là. Người con gái lớn sinh năm 1988 mất khi mới 8 tháng tuổi.
v
Phạm Thị
Hiền sinh năm 1990
v
Phạm Văn
Quang sinh năm 1992
v
Phạm Thị Thêm sinh năm 1994
Các
cháu khỏe mạnh, Cháu Hiền và cháu Quang
học đến lớp 9 nghỉ ở nhà tham gia lao động sản xuất, còn cháu Thêm đang học lớp
12. Kinh tế gia đình ổn định và cư trú
tại Lục Nam
– Bắc Giang.
·
Chị Nguyễn Thị
Bé sinh năm 1965 chồng chị là Ngô Văn Hiện sinh năm 1964 anh chị
được 3 người con 2 người con gái và 1 người con trai.
v
Ngô Thị Huệ sinh năm
1991
v
Ngô Văn
Hiệp sinh năm 1993
v
Ngô Thị
Hoài sinh năm 1996
Cháu Huệ
mất năm 2002, lúc cháu đang học lớp 5. Còn 2 cháu còn lại đang đi học. Kinh tế
gia đình anh chị ổn định và cư ngụ tại Lục Nam – Bắc Giang.
·
Chị Nguyễn Thị
Hữu sinh năm 1968 chồng chị là Phạm
Văn Mạc sinh năm 1969 anh chị được 3 người con gái.
v
Phạm Thị Trang sinh năm
1992
v
Phạm Thị
Thương sinh năm 1995
v
Phạm Thị
Thảo sinh năm 2000
Các cháu
đều đang đi học và khỏe mạnh. Kinh tế gia đình Anh chị ổn định, hiện tại đang
cư ngụ tại Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.
·
Chị Nguyễn Thị
Chung sinh năm 1974 là con gái út của ông hiện nay đã lập gia đình năm 1998
với anh Nguyễn Văn Tân sinh năm 1971 sinh được 2 người con 1 trai và 1 gái.
v
Nguyễn Trung Kiên sinh năm 1999
v
Nguyễn Thị Chiêu Anh sinh năm 2002
Hiện tại 2 cháu đang đi học, còn
anh chị đang cư ngụ tại quê chồng là Nam Đàn – Nghệ An. Kinh tế tương
đối ổn định.
* Con trai
thứ 4 của cụ là Nguyễn Đức Út sinh
năm 1932 mất năm 1950. Lúc đó anh mới 18
tuổi. Bị giặc Pháp tấn công càn quét, bị
trúng đạn nên anh hy sinh.
DANH SÁCH
GIA TỘC CỦA CỤ TỔ NGUYỄN PHÚC ĐƯỜNG
Để lại cho
các con cháu mai sau, còn từ đời cụ thủy tổ ( Bố ) trở về trước đã có các ngành
các chi lo cúng bái. ( Thí dụ ngành này
anh Tư là trưởng Ngành vì bố mẹ anh này là con trưởng ).
Còn chi học trước kia là giao cho
ông Du nay ông Du chết giao cho con là anh Lượt làm Trưởng họ Nguyễn Đức.
Còn đây chỉ ghi một gia tộc của
một cụ tổ mà con cháu hiện nay đang phải thờ cúng như :
Cụ tổ ông : Nguyễn Quý Công tự Khúc Đường
Cụ tổ bà : Ngô
Thị Hiệu, Hiệu Riệu Niệm. Cháu
trưởng hiện nay là ông Nguyễn Đức Châu. Cụ ông cụ bà sinh được 4 người con 3 gái + 1
trai. Cụ thể là :
·
Bà Nguyễn Thị
Dội
·
Bà Nguyễn Thị
Đống
·
Bà Nguyễn Thị
Lắm
·
Ông Nguyễn Đức Đảm
Ông là trưởng tộc vì có 1 ông là trai. Ông lấy 2 bà vợ
§
Bà cả là Lê
Thị Phụ
§ Bà hai là Nguyễn
Thị Nhâm
Hai bà sinh
được 10 người con 6 gái và 4 trai. Bà cả
sinh được 3 gái và 1 trai. Bà hai sinh
được 3 gái và 3 trai. Đến năm 1948 ông
con cả là Nguyễn Đức Mậu đi bộ đội chống Pháp đến tháng 11 – 1954 bị hy sinh
tại mặt trận việc gia tộc giao lại cho ông Nguyễn Đức Châu là con trai lớn của
Bà Hai làm trưởng tộc để thờ cúng tổ tiên nội ngoại cho đến nay.
Bây giờ kể
đến hoàn cảnh lịch sử cuộc đời ông
Ông sinh ngày 06 – 10 – 1926. ( Tức sinh năm Đinh Mão ) ông sinh ra và lớn
lên trong một gia đình nông dân hiền lành kể cả cụ sinh ra ông trở về trước
cũng vậy chỉ chuyên nghề làm lụng cày thuê cuốc mướn, không ai được học hành gì
cả vì 2 cụ bà sinh các bà trước đều là con gái, đến ông là thứ 7 mới là con
trai lại là con của cụ Hai nhưng là con trai đầu của gia đình, nên được các cụ
quí mến nuông chiều đến năm 1934 ông mới 8 tuổi đã được đi học chữ Hán ( Nho ).
Lúc đó phong trào chữ Hán đang được mở
rộng, ông rất ham học ông học liền 5 năm đến 1939 ông thấy phong trào học chữ
Việt được khuyến khích ông xin chuyển sang học chữ Việt. Lúc này ý cụ ông không muốn cho ông chuyển
nhưng ông cứ tha thiết với cụ để xin chuyển trường. Từ đó ông học suốt 4 năm đến năm 1943 có đợt
thi bằng Tiểu học, ông được đi thi ông đỗ bằng Tiểu học năm đó ông 18 tuổi sau
khi ông lãnh được bằng về trình làng để lĩnh phần thưởng ( vì làng đã có giải
thưởng từ trước nhằm khuyến khích cho những ai học giỏi nếu thi đỗ có bằng thì
làng thưởng cho bằng người có chức thư ký ở trong làng v. v. . ( vì dân ít học ). Cả làng từ trước đến nay mới có 4 người có
bằng trong đó có cả ông đến cuối năm 1943 ông được dân bầu vào làm Trưởng Bạ
thay cho ông cũ vì ông làm đã quá niên hạn ( các quan đã có thông báo ). Ông làm trưởng bạ từ cuối năm 1943 được hơn 2
năm giữ điền địa cho dân sau đó Cộng sản bắt liên lạc với ông để hoạt động đến
08 – 1945 ông đem hết sổ sách nộp cho cộng sản rồi ông tham gia vào cách mạng
ông xin nhập vào dân quân tự vệ đến 10 -1947 ông được bổ sung vào Ban Địa chính
phụ trách đất đai của toàn xã đến tháng 08 – 1948 ông được kết nạp vào Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Sau một thời gian ông hoạt động
tích cực được công nhận là đảng viên chính thức. Sau đó Đảng bộ bầu ông cấp ủy phụ trách địa
chính và làm Trưởng ban thuế nông nghiệp toàn xã đến năm 05 -1950, huyện ủy Yên
Dũng điều ông đi phụ trách dân công 5 xã là Trí Yên, Tân Dân, Dĩnh Kế, Thái Sơn,
Dĩnh Trì. Đi làm con đường Tam Canh đi
giải phóng Điện Biên Phủ. Sau khi tổng kết
con đường đó ông về địa phương đang giảm Tô chia tách xã ra làm 2 là xã Chí Yên
và Hồng Phong.
Đến tháng 10 -1955. Huyện ủy Yên Dũng điều ông đi công tác khu tự
trị lúc đó và một số cán bộ của huyện đi cùng lên tỉnh thành lập Đoàn : do ông
Nguyễn Thanh Quất lúc đó là T. V Tỉnh ủy Tỉnh đội trưởng Bắc Gian làm bí thư
Đoàn ủy. Lên công tác ở huyện Hữu Lũng
sau đó đưa huyện Hữu Lũng về Lạng Sơn.
Đến tháng 6 – 1956 về tổng kết khu
tự trị và tinh giảm biên chế. Trong lúc
Hội nghị đang tổng kết không may cơn bão ập đến lúc đó ông xin về địa phương
khi ông về đến gia đình nhà cửa bị đổ tan nát thóc bị đổ hết xuống sân nước lụt
tràn vào, lúc đó bà mới sinh cháu gái thứ 3 mới được 2 tháng thời gian ở còn
non nhưng bà tiếc của ngâm người dưới nước suốt mấy ngày sau đó bà lâm bệnh,
gia đình thuốc thang hết đó đây không khỏi đến ngày 21 – 09 – 1956 bà lâm bệnh
nặng và qua đời, để lại cho ông 1 mẹ già, 3 con nhỏ gồm 2 trai và 1 gái trong
đó con lớn mới 6 tuổi, con thứ 2 mới 3 tuổi, con gái mới 2 tháng tuổi, gia đình
ông lúc này gặp phải 1 tai nạn vô cùng đau xót.
Khi bà mất đi mới có 27 tuổi đời
mà ông lúc đó mới 30 tuổi cảnh gà trống nuôi con. Hơn nữa trong lúc này ông đang công tác mà
cảnh gia đình ông gặp những điều ngang trái khiến ông phải suy nghĩ rất gay go
vì cụ Bà già chỉ sinh được 1 ông anh là con trai ông đi bộ đội hy sinh năm 1954
tại mặt trận chống Pháp.
Em trai út của ông bị bệnh chết
năm 1948 còn 1 ông em trai dưới ông lúc này hoàn cảnh gia đình cũng nặng gánh.
Có nhiều điều ông suy nghĩ rất khó
xử, khó giải quyết có những buổi ông đã tâm sự với 1 số ông là bạn bè thân
thuộc chuyển sang dạng tiêu cực ( Thôi đắc chữ Chung thất kỳ chữ Hiếu vậy bản
thân nghĩ cũng không nào khác ).
Trước cảnh đau thương này được các
ông bà, anh chị em nội ngoại, học hàng làng xóm. Bạn bè đến động viên ông phải khắc phục mọi
mất mát đau thương thành hành động cách mạng thì mới có thể cứu vãn được tình
thế.
Sau đó ông tiếp thu các ý kiến và
chấp thuận sự đóng góp trung thành của các bà chị trong gia đình, được ít ngày
sau ông xây dựng với bà Hai về để kế mẫu và nuôi mẹ già thay ông để ông yên tâm
hoạt động. Sau thời gian ông ổn định
công việc trong gia đình rồi ông bắt tay vào hoạt động công tác ở địa phương,
ông tham gia vào Đảng ủy xã và được bầu làm chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ông bầu với Đảng với dân đắp bổ sung 7 Km đê
bỏ lại từ thời kì Phủ Khúc để bảo vệ 900 mẫu lúa Chiêm được đân đồng tình nhất
trí công trình thi công từ đầu năm 1957 đến tháng 2 – 1958 con đê đã cơ bản
hoàn thành thì tỉnh ủy Bắc Giang quyết định điều lên Ban nông nghiệp làm công
tác xây dựng và củng cố phong trào hợp hợp tác xã nông nghiệp trong toàn tỉnh v.
v. . Suốt 19 năm liên tục ông ở cơ quan
tham mưu cho tỉnh ủy Hà Bắc.
Đến năm 1974 ông được phân công về
xây dựng lại cơ quan ở thị xã Bắc Giang không may ông bị tai nạn lao động (đổ
tường đẹn phải nên ông bị gãy chân, sau thời gian cơ quan chữa trị khỏi sức
khỏe cũng giảm. Hơn nữa tuổi đời năm đó tôi cũng đã gần 60 tuổi nên tôi đề nghị
cơ quan cho tôi xin về nghỉ hưu được cơ quan chấp nhận.
Đến tháng 6 – 1976 tôi được về
nghỉ hưu tại địa phương xã Lạng Sơn khi mới về nghỉ hưu được ít ngày thì Đảng
bộ và nhân dân địa phương đưa vào lãnh đạo sản xuất nông nghiệp trực tiếp làm
Chủ nhiệm Sản xuất 4 năm liền, nhưng vì đất đai thì có hạn mà dân số ngày càng
cao nên năng suất không sao đáp ứng kịp hơn nữa quê hương lại ở vào úng ngoại
đê. Hàng năm chỉ cấy được 1 vụ lúa chiêm. Hồi đó ông có suy nghĩ nếu cứ kiểu
làm ăn thế này. Chỗ ở bó hẹp lại mà hoàn cảnh gia đình đông con mình phải hy
sinh đời bố để củng cố đời con có như vậy mới mở mang cho con cháu sau này được.
Một hôm ông tọa đàm với các con và
cháu, được con cháu thấy ra lẽ phải đến tháng 10 -1987 một sô các anh con trai
đem vợ con vào nam như : vợ chồng anh Lưu
+ anh Hạnh.
Rồi mấy năm sau các em làm ăn ổn
định lại ra đón tiếp mấy anh vào, các con cháu chịu khó làm ăn nên đời sống
cũng khá hơn.
Còn về phần cá nhân và thành tích
của ông từ khi biết làm người đến nay :
o
Những lúc ở nhà hoặc lúc đi công tác về thường xuyên
giáo dục anh chị em con cái trong gia đình phải biêt đoàn kết thương yêu nhau
phải biết quí mến bố mẹ, kính trọng ông bà.
o
Những năm ông còn trẻ tuổi đi công tác xuống cơ sở các
nơi trong tỉnh ông luôn giữ lời dạy của Bác Hồ ( Đi dân nhớ ở dân thương ) đôi
lúc về thăm nhà đối với bà con tình làng lối xóm lúc nào cũng vui vẻ đoàn kết
dù là Bắc hay Nam
cũng vậy.
o
Từ năm tôi được về nghỉ hưu đến nay tôi luôn chấp hành
các chỉ thị nghị quyết của Đảng và Chính phủ rất nghiêm túc như sinh hoạt Đảng
và đóng Đảng phí đều đặn.
o
Tích cực tham gia xây dựng phong trào xã hội người cao
tuổi, giữ vững phong trào gia đình mẫu mực con cháu hiếu thảo
o
Về chế độ khen thưởng
·
Năm 1954 ông được Chính Phủ tặng 1 Huy chương Kháng
chiến chống Pháp hạng nhất.
·
Năm 1975 ông được Chính Phủ tặng 1 Huy chương Kháng
chiến chống Mỹ hạng nhất.
·
Năm 1955 ông được chính phủ tặng 1 kỉ niệm chương
·
Năm 1957 đến 1960 ông 3 lần được trao giấy khen + 2
lần tỉnh cấp bằng khen.
·
Năm 1977 Huyện Tân Uyên tặng ông 1 bằng khen Gia đình
Mẫu mực Con cháu Thảo hiền
·
Căn cứ vào những ngày giỗ trước mắt và sau này của gia
tộc ông phân cụ thể cho các con cháu là Tiến Chủ ( Trưởng ) còn đồng gia quyến là những người
phải tuân theo giỗ, ngoài ra có người thuộc nội ngoại nhớ đến, hoặc do Tiến Chủ
thỉnh ( mời ) có nén nhang đến cúng cụ ……. .
Chị Quý con dâu cả
Cháu Nguyễn Đức Hoan
là cháu trưởng của học tộc trước mắt và sau này Chước Tiên cúng cụ tổ hàng năm
và các giỗ sau đây:
-
Ngày 11 – 02 giỗ cụ tổ ông tên là Nguyễn Quí Công tự Phúc Đường.
-
Ngày 21 – 03
giỗ cụ tổ bà tên là Ngô Thị Hiệu :
Hiệu Riệu Niệm.
-
Ngày 28 – 11 giỗ
cụ ông ( là con cụ tổ ) tên là Nguyễn
Quí Công tự Phúc Đang
-
Ngày 24 – 06 giỗ
cụ bà cả tên là Lê Thị Phụ Hiệu Riệu
Từ
-
Ngày 16 – 03 giỗ cụ Bà Hai tên là Nguyễn Thị Nhâm Hiệu Riệu Dần.
-
Ngày 19 – 05
giỗ cụ bà là con gái của cụ tổ vì không có con, tên là Nguyễn Thị Lắm.
Số người theo giỗ các cụ :
Giỗ cụ ông 11 -02 (
Bác Quang )
Giỗ cụ bà 21 -3 ( Bác Quang )
Giỗ ông 28 – 11 ( Bà
Hạt )
Giỗ bà 24 – 6 ( Bà Hạt
)
Giỗ bà trẻ 16 – 3 ( Bà
Hạt )
Anh Nguyễn
Đức Việt con trai thứ là Tiến Chủ ( trưởng ) + đồng gia quyến Chước Tiên
cúng cụ ngoại sinh ra mẹ già.
Ngày 28 - 02Giỗ cụ ông tên là Ngô
Văn Chừng
Ngày 04 - 11 Giỗ cụ bà tên là Vũ
Thị Can
Ngày 21 - 9 Giỗ mẹ già (đẻ) tên
là Ngô Thị Đối
Ngày 04 -02 Giỗ em tên là Nguyễn
Thị Gái
Số người
theo giỗ mẹ già ngày 21 – 9
-
Chị Quý
-
Chị Phong
-
Anh Lưu
-
Chị Luyến
-
Anh Hạnh
Anh Nguyễn Đức Lưu con trai thứ Tiến Chủ (
trưởng ) cúng các ông bà 15- 5 Giỗ
bà Nguyễn Thị Hỵ là chị gái của bố (
tức bà cô )
Tiếp tục nuôi cha mẹ cho đến khi
cha mẹ qui tiên tổ và thờ cúng cho đến
khi thay quần đổi áo lúc đó các anh chị là con và đồng gia quyến lúc đó sẽ bàn
cụ thể ….
Ngày 17 -12 giỗ cụ ông ngoại đẻ ra mẹ 07 – 5 giỗ cụ bà
Anh Nguyễn Đức Hạnh con trai thứ Tiến Chủ (
Trưởng ) cúng các ông
Ngày 20 -11 giỗ ông Nguyễn Đức
Mậu là anh trai của bố và là liệt sỹ chống Pháp.
Ngày 08 -11 Giỗ ông Nguyễn Đức Út
là em trai của bố.
VIÊN HIỆU TÍNH NGÀY PHÚC
SINH CỦA CÁC THÁNG
Tháng giêng tháng dần :
ngày dậu
Tháng hai tháng mão : ngày mão
Tháng ba tháng thìn : ngày
tuất
Tháng tu tháng tỵ
: ngày thìn
Tháng năm tháng ngọ :
ngày hợi
Tháng sáu tháng mùi :
ngày tỵ
Tháng bảy tháng thân :
ngày tý
Tháng tám tháng dậu : ngày ngọ
Tháng chín tháng tuất : ngày sửu
Tháng mười tháng hợi :
ngày mùi
Tháng mười một tý : ngày dần
Tháng mười hai tháng sửu:
ngày thân
BẢN KÈM THEO NHỮNG NGƯỜI CHỨNG KIẾN
BIẾT ÔNG MẬU HY SINH.
BIẾT ÔNG MẬU HY SINH.
Ø
Tôi Ngô Thị
Bằng là vợ ông Nguyễn Văn Mậu,
lúc tôi lấy ông Mậu tôi mới 18 tuổi mẹ chồng tôi mất sớm. Vợ chồng tôi ở với bố mẹ tôi được 2 năm thì ông
Mậu đi bộ đội ở Tiểu Đoàn 61. Được 2 năm, năm 1950 bố chồng tôi chết bệnh lúc
này ông Mậu vẫn ở bộ đội đến năm 1954 huyện và xã có tin báo về gia đình là
chồng tôi chiến đấu với giặc Pháp và hy sinh ở Bốt ……… cầu Quất Lâm 6 1954. Sau đó huyện và xã cùng các ban ngành đoàn thể
trong xã đến tổ chức lễ truy điệu cho chồng tôi tại gia đình. Được bà con dân làng hàng xã đến dự rất đông
đủ. Trong lúc đó được cấp cho một tấm
bằng tổ quốc ghi công và bằng huân chương kháng chiến hạng ba. Sau khi chồng tôi hy sinh được ba năm 1956 lúc
đó tôi mới 25 tuổi mà con cái chưa có. Tôi trình bày với gia đình nhà chồng tôi xin
về vì con trẻ nhà chồng vui vẻ thỏa thuận có nhất trí tôi giao lại hết tài sản
bên nhà chồng cho ông Nguyễn Đức Châu
là em trai ruột của chồng tôi để thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ và ông Mậu từ
bây giờ đến sau này.
Bản khai và
đơn đề nghị của ông Châu là đúng sự thật đề nghị các cơ quan nhà nước giải
quyết cho.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét