Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

GIA PHẢ HỌ NGUYỄN ĐỨC P1









GIA PHẢ HỌ
 NGUYỄN ĐỨC
























Ngày    6    tháng    giêng    năm   Kỷ   Hợi  ( tức 1995 ).   Tôi       
Nguyễn Đức Châu là con trai trưởng của một gia đình thuộc dòng họ NGUYỄN ĐỨC(viết bằng chữ nôm). Nay trích đoạn trong gia phả của họ NGUYỄN ĐỨC từ đời thượng cổ đến đời trung cổ và cho đến nay còn lưu lại để áp đặt giữ gìn và vận dụng vào hoàn cảnh gia đình để cho con cháu nắm được gốc tích tổ tiên của mình và xây dựng kế tiếp cho các đời mai sau. Tập gia phả này nhằm phục vụ cho các cháu có nguyện vọng tha thiết đến dòng họ,tổ tiên của mình.
Nội dung chính của tập gia phả gồm có :

Phần thứ I :   Trích đoạn trong tập gia phả

·       Cụ thượng tổ Nguyễn Đức Tài
·       Tên thường gọi là cụ Tài Quận Công ( vì cụ có hai người con thi đỗ Quận Công ) cụ sinh tại Thôn Quế, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh.
Cụ sinh được 2 người con trai từ nhỏ đều thể hiện tài năng về cả văn và võ  được xếp vào loại văn hay chữ tốt, võ cũng tài, đến khi vào thi được các quan triều đình xếp vào hạng văn võ song toàn. Hai cụ đều thi đỗ Quận Công và làm quan trong triều. 

·       Hai cụ sinh được nhiều con cả trai và gái ( thời đó thường nhiều vợ ) khi các cụ đông con mới phân thành 2 chi.

Chi Giáp là chi của Cụ Anhchi Ất là chi của Cụ Em gọi là Giáp Ất Nhị Chi các con của các cụ đa số đều thành đạt về công danh và có 18 ông đỗ chức Quận Công3 ông đỗ Tể Tướng nên trong sách có đề là (Thập Bát Quận Công Tam Tể Tướng ) nên triều đinh phân bổ đi làm quan ở các tỉnh gồm 4 tỉnh miền trong và 5 tỉnh miền ngoài, từ Thanh Hóa trở ra và từ Sơn La, Lai Châu trở về nên trong sách có đề là ( tứ tỉnh miền trong và ngũ tỉnh đường ngoài ) có cụ ở Chi Giáp thi đỗ Quận Công được phân bổ về làm quan ở tỉnh Hải Dương và người thường gọi là quan Quận Hải Dương.

·       Phần Lăng mộ cụ Thượng Tổ và nhà thờ cụ.

Lăng mộ cụ xây ờ đầu làng Quế, xã Chi Lăng, Quế Võ, Bắc Ninh ngôi mộ này để rộng 5 xào Bắc Bộ (1800m­2), trong lăng có một căn nhà thờ cổ : chiều dài 3 gian nhà ngói cổ, trước cửa có một tấm bia đá cao 1m60 rộng 1m20.

Có 2 con voi đá,2 con ngựa đá,đến năm 1989 mới xây thêm 1 căn nhà Tiền Tế dài 5 gian để đón khách.  Di sản này hiện đang giao lại cho Ông Tôn hiện nay đang trông coi gìn giữ.

--------------------------------------------------------------------------------------
Lại nói về cụ ở Chi Giáp thi đỗ Quận Công về làm quan ở Hải Dương cụ xây dựng 1 khu nhà thờ ở làng Dũng Quyết – xã Việt Hùng – Quế Võ – Bắc Ninh, khu vực nhà thời gồm có :

Một nhà thờ 3 gian chạy theo bát nguyệt tường xây bằng đá xanh tường dày 1m20, trước nhà có một tấm bia đá cao 1m50 rộng 1m20, 2 con ngựa đá và 2 con voi đá và các Thống Đá 2 bên xây 2 nhà Sáo Xá trông rất đồ sộ.  Khu vực nhà thờ này hiện này ông Nhàn là trưởng vẫn ở trông coi gìn giữ.  Cụ có 4 bà chính + thứ thiếp, các cụ sinh ra đuợc 8 người con trai có nguời làm quan có người làm dân, có người giỏi văn có người giỏi võ.

Như cụ Nguyễn Phúc Thiện là con thứ cụ đến lập ấp ở xã Ngư Uyên cổ cá này gọi là thôn thuộc Tổng Cổ Dũng này là xã huyện Yên Dũng -  tỉnh Bắc Giang.

Các cụ đông con có ông đến thôn Long Trì xã Tân An lập nghiệp, có ông đến thong Bùi Kép xã Yên Lư – Yên Dũng – Bắc Giang lập nghiệp còn các ông Nguyễn Hào, Nguyễn Phúc Chung sang bên kia sông Thương cắm 65 mẫu đất Bãi Rìa Trệ sông Thuộc, địa phận của xã Đông Loan, Tổng Chí Yên cũ sau này là Lãng Sơn Yên Dũng.  Khu đất này gọi là Trệ Bãi của Thôn Đông Loan.

Khi các cụ sang coi như mượn đất để chăn nuôi vịt dựa vào việc nuôi vịt để đo đạc lập thành sổ địa bạ rồi chôn cột làm mốc ngầm lập thành địa giới, được ít lâu sau đưa 1 số hộ sang lập trại đặt tên là (Đà Hy Trệ Bãi ).

Trong sổ địa bạ có ghi địa giới là thượng từ Bụt mọc hạ chí Tiên La vi giới ( nghĩa là đầu làng thẳng từ chùa bụt mọc nhìn sang, cuối làng thẳng từ Tiên La nhìn sang sổ này được lập thành thời đầu vua Gia Long khai sang ) đã trải qua mấy triều đại, đến khi Đà Hy  ổ cá xảy ra tranh chấp với dân Đông Loan. Việc mâu thuẫn này các quan của 2 huyện Yên Dũng và Lạng Giang phải trực tiếp về hiện trường xử mới kết luận được sau khi cho khai quật 2 cột mốc ở cả 2 nơi lên thì đúng như trong sổ địa giới đã ghi nên các cụ đã được quyền sở hữu và thế đứng của con người từ đó các cụ đưa một số lớn hộ sang ở gồm có đủ 4 dòng họ như Ngô, Nguyễn, Đỗ, Dương….

Họ NGUYỄN ĐỨC có cụ Phúc Hào và cụ Phúc Chung, 2 cụ sang lập nghiệp lúc mới sang được tất cả trong họ đều nhất nhất ủng hộ.  Kể cả các họ khác có người sang ở bên này cũng đều đồng tình theo đuổi cho đến khi được công nhận thành một thôn một xã có đủ tư cách tư pháp như Đông Loan, Lãng Sơn, Chí Yên… cho nên ta mới sang ở chưa đầy 5 năm xin lập một xã có Lý trưởng riêng coi như nhất xã nhất thôn đó là việc vua việc nước theo hàng Tổng hàng Huyện nơi ở bên này tức là tổng Chí Yên – huyện Lạng Giang ) nên cũng thời gian 5 năm đó các cụ ta đã ra tranh cử chức Chánh Tổng để xóa chữ ngụ cư, còn việc tục lệ như ma, chay, cưới xin, hội hè đình đám, hàng năm vẫn theo xã cũ là ở Ngư Uyên ổ cá. Tổng cổ Dũng huyện Yên Dũng ( chuyện kể dài lắm xin tạm dừng lại )

Cụ tổ ở Đà Hy sinh ra được 3 người con trai và 1 cháu sang ở với chú thành lập 1 chi họ gồm 4 ngành 3 con 1 cháu, cụ thể là :

1 ngành thứ nhất : 1 cụ sinh ra

Bố ông Quấn + ông Quán đến ông Xuyến đến anh Than

Bố ông Môn + ông Môn, ông Men đến anh Thoa

Bố con ông Đãng, ông Ru

đây là ngành con cả  

2 Ngành thứ 2 : 1 cụ sinh ra

Bố ông Như, bố ông Tư, bố ông Hạ, bố ông Chử đến các con cháu chắt hiện nay đại diện như ông Đa, Đước, Lanh, Tạo, Bích …

3. Ngành thứ 3 : 1 cụ sinh ra

Bố ông Bừa đến ông Ruộng, bố ông Tam, bố ông Thuần, bố ông Hoành, ông Đường…

4. Ngành thứ 4 :

Ngành cháu con ông anh bố ông Mạch, bố ông Mẫn, bố ông Kế …

Đây là trích đoạn trong gia phả có đoạn tử thượng cổ đến trung cổ và có đoạn gần thời gian hiện nay.

Ví dụ:

1. Ngành con cả các cụ sinh ra

- Cánh ông Quán + ông Xuyến này là anh Thao

- Cánh ông Môn + ông Men này là anh Giao

- Cánh ông Đảng,ông Ru nay là Xuân + Lai   

Phần thứ II : Vận dụng vào gia đình

2. Ngành thứ 2: các cụ sinh ra

-Cánh ông Như đến ông Đa nay là anh Đề

-Cánh ông Chánh Tư và các con

- Ông Được,Thành,Khoát, Đạt … nay là Đước,Lanh, Nông.  Tạo

  (dưới )-Cánh ông Lý Hạ nay là ông Bích + Lạc + Tạc

(trên) – Cánh ông Minh + Thông + Phán nay là anh Dục + Dược … Ước + Hưởng

-Cánh ông Lý Chử + Hội Chí nay là Nguyên + Tiến + Kim + Cương …

3. Ngành thứ 3 con cả là bố ông Lý Bửa ngày xưa này các cháu chắt là anh Tư … rồi đến anh Bạn,anh Vân Nam. ông Châu,ông  Thái,ông Kỳ (Hải Dương)

4. Ngành con  ông anh ở bên Ổ Cá sang Đà Hy ở với chú như bố của Mạch ông Mẫu, ông Kế.

Ngành này tuy là anh cả của 4 ngành nhưng không được làm trưởng vì là cháu của cụ tổ.

Nói tóm lại chi họ NGUYỄN ĐỨC ở Đà Hy hiên nay tính từ đời cụ kị, ông cha,cháu chắt từ 7 đời nay thì anh Thoa là trưởng họ vì là con cháu ông Quán Xuyến.

Phần lăng mộ của các cụ tổ.

-         Mộ cụ Nguyễn Phúc Thiện xây ở gần chùa Ruối xóm Thuận Lý ổ cá.

-         Mộ cụ Phúc Hào xây ở vườn chè xóm Đông Thắng ổ cá

-         Mộ cụ Phúc Chung xây ở đồi Xuẩn Thôn - Lạng Sơn.

Các phần lăng mộ trên đây đều được xây dựng gọn gang cả, lăng các cụ ông ở đâu thì các cụ bà ở gần đó.

Trên đây là Trích đoạn một phần trong gia phả còn chủ yếu đi sâu vào cụ tổ tiên nhà mình cụ thể là :

Ngành nhà ta là ngành thứ 3 (tức con thứ 3) Hiện nay anh Tư là trưởng ngành cách đây 7 đời. Trong đó có các cụm hộ như

·       Nhà ông Hùng  +  nhà anh Bạn  +  nhà anh Vân  +  nhà ông Châu +  nhà ông Thái  +  nhà ông Kỳ  … nhưng cụ tổ của ngành thứ 3 sinh ra được một số các ông con như cụ nhà là con thứ 5 của của cụ tên Húy danh thường gọi cụ là Nguyễn Quý Công tự Phúc Đường khi cụ còn trẻ lập gia đình với cụ bà là Ngô Thị Hiệu ( Hiệu Diệu Niệm ) cụ là bà cố Bố ông cả Thủ ( tức cánh ông Hồi ) sau đó cụ đem cụ bà đến làng Dâu Nam Gián nay thuộc Tông Nhân Huệ huyện Chí Linh Hải Dương để lập nghiệp được ít lâu sau cụ lấy bà hai ( vợ ) sinh được một số các ông mất sớm còn ông Nguyễn Đức Cầm sinh được 3 con trai + 1 con gái.  Tên thường gọi :

o      Nguyễn Thị Hào

o      Nguyễn Đức Kỳ

o      Nguyễn Đức Thị

o      Nguyễn Đức Luật

Những năm cụ ở làng Dâu ở đó có hai làng gần nhau gọi là Làng Dâu + Nam Gián.  Hai làng này có một cái đinh thờ chung ông Thần Hoàng.

Một hôm ở đình làng có việc gọi là Ngày việc làng.  Hôm đó, có đầy đủ các ông chức trách, Kì Cựu, quan viên trai tráng của cả 2 làng.  Các cụ bàn nhau lấy chợ Huyện về mở chợ mới tại thôn gọi là Chợ Dâu.  Các cụ trong làng treo một giải là nếu ai lấy được chợ Huyện về chợ Dâu thì được chức Thủ Chỉ ở chốn đình chung của cả 2 làng lúc này cụ đứng đầu ra nhận và một số người cũng ùa theo cụ.  Sau 2,3 lần chợ huyện mất, thành chợ Dâu từ đó cụ được giữ chức Thủ Chỉ trong làng, rồi lại có tin cụ là con cháu của cụ Quan Quận Hải Dương ngày xưa.  Rồi thông qua tin đó cụ mới ra lệnh cho các đò ngang chở khách qua sông cấm không thu phí của những người khách Bắc, các lài đò đều phải tuân thủ vì nể tiếng tăm.

Được ít lâu sau cụ Bà thấy cụ ông làm những việc cương trực, táo bạo quá cộng với bối cảnh trong gia đình cụ bàn, nói và thuyết phục cụ ông về quê nội ở Bắc  ( tức Đà Hy ).

          Khi cụ đem gia đình về trên đất Bắc anh em trong họ tộc rất qui mến và bà con lối xóm rất kính nể vì ai cũng biết tiếng cụ ở vùng Chí Linh - Nam Sách

          Cụ cả về trên này sinh được 4 người con : 1 trai và 3 gái là

   1.  Bà Nguyễn Thị Dợi

   2.  Bà Nguyễn Thị Đống

   3. Bà Nguyễn Thị Lắm

   4. Ông Nguyễn Đức Đảm

Phần lăng mộ và ngày giỗ các cụ:

 Ngày giỗ và ngày mất cụ ông là ngày 21-03 hàng năm : mộ ký táng tại Mả Đàm Sứ

 Ngày giỗ và ngày mất cụ bà là 11- 02 hàng năm.  Mộ ký tang tại Cổ Ngựa  + Chung Bói Xứ đã xây đắp gọn gang.

1.    Nguyễn Thị Dội chồng bà là Ngô Văn Hoãn bà không có con,bà mất ngày 21 – 10.

2.    Nguyễn Thị Đống có chống là Đỗ Văn Tý,bà sinh được 3 người con 2 trai + 1 gái :

Đỗ Văn Cận

Đỗ Văn Ất

Đỗ Thị Ký

Bà mất ngày 09 – 01.

3.  Nguyễn Thị Lắm có chông là ông Ngô Văn Thô.  Bà không có con, bà mất năm 19 – 05 - 1966 hưởng thọ 77 tuổi.  Chống bà mất năm 1954.

4.  Cụ Nguyễn Đức Đảm mất năm 28 – 11- 1948,hưởng thọ 68 tuổi. Cụ lấy 2 bà sinh được 10 người con 4 trai + 6 cháu gái cụ thể là

     1-      Nguyễn Thị Thư

     2-      Nguyễn Thị Cún

     3-      Nguyễn Thị Thơi

     4 -     Nguyễn Thị Hỵ

     5-      Nguyễn Thị Tuất

     6-      Nguyễn Thị Tý

     7-      Nguyễn Đức Mậu

    8-      Nguyễn Đức Châu

     9-      Nguyễn Đức Thái

     10-    Nguyễn Đức Út

+ Vợ cả của cụ Nguyễn Đức Đảm tên Lê Thị Phụ mất ngày

24 - 06 - 1939, hưởng thọ 58 tuổi.  Cụ sinh được 4 người con.

* Con gái cả của cụ là Nguyễn Thị Thư, hiện nay bà 86 tuổi vẫn còn khỏe có chồng là Ngô Văn Thư người cùng làng, bị tây càn không may bị bắn chết năm 1948, hưởng thọ 49 tuổi bà sinh được 2 con trai và 1 con gái đến nay cũng trưởng thành cả.

     Ngô Văn Dũng sinh năm 1936

     Ngô Văn Bộ sinh năm 1939

     Ngô Thị Tiến sinh năm

    

* Con gái thứ 2 của cụ là Nguyễn Thị Cún lấy chồng ở xóm khác tên là Nguyễn Văn Bảo.  Bà mất năm 1988, bà sinh được 5 người con 3 trai + 2 gái đến nay cũng trưởng thành cả

     Nguyễn Văn Tạo sinh năm

     Nguyễn Văn Tân

     Nguyễn Văn Khuya

     ???

     ??

    

*  Con gái thứ 3 tên là Nguyễn Thị Thơi hiện nay bà thọ 71 tuổi, vẫn còn khỏe.  Bà lấy chồng xã khác chồng bà là Ngô Văn Quý mất năm 1987, thọ 55 tuổi bà sinh được 6 người con 4 trai + 2 gái, các con đều làm ăn riêng và trưởng thành cả rồi.

     Ngô Văn Bé

     Ngô Văn Tẽo

     Ngô Văn Biên

     ??

     Ngô Thị Hoa

     ??

* Con trai thứ 4 tên là Nguyễn Đức Mậu đi bộ đội đánh nhau với giặc Pháp tại cầu Cút Lâm đường 13 từ Bắc Giang đi Bị hy sinh năm 1956 lúc đó cụ mới 27 tuổi (ngày giỗ 20-11 hàng năm).

+ Vợ hai của cụ tên Nguyễn Thị Nhâm(Bà Hai) cụ mất 16 - 03- 1964, hưởng thọ 74 tuổi. Cụ sinh được 6 người con gồm 3 trai và 3 gái

 * Nguời con gái cả tức là con gái thứ năm của cụ Nguyễn Đức Đảm tênNguyễn Thị Hỵ mất lúc 15 tuổi, ngày giỗ 15 – 05 hàng năm.

 * Người con gái thứ 2 tức thứ 6 của cụ Đảm tên là Nguyễn Thị Tuất hiện nay 75 tuổi vẫn khỏe, có chồng là ông Dương Văn Trác mất 15 – 06 – 1989, hưởng thọ 71 tuổi.  Bà sinh được 7 người con 2 trai và 5 gái cụ thể là :

         Con trai:

·       Con trai cả Dương Đình Biên

·       Con trai thứ Dương Đình Khu đi bộ đội hy sinh chồng Mỹ ( Liệt Sỹ)

Con gái:

·       Dương Thị Song

·       Dương Thị Sổ

·       Dương Thị Khi

·       Dương Thị Chế

·       Dương Thị Bồng

Các con của bà đều khỏe mạnh và trưởng thành cả.

* Người con gái thứ 3 của cụ Bà Hai tức là con gái thứ 7 của cụ Đảm là Nguyễn Thị Tý hiện nay bà 72 tuổi, bà vẫn khỏe mạnh.  Chồng bà là Ngô Văn Bản mất 18 – 12 – 1989, hưởng thọ 72 tuổi.  Bà sinh được 4 người con gồm 2 trai và 2 gái cụ thể là :

     Con trai:

·       Ngô Minh Căn ( đi bộ đội chống Mỹ hi sinh – Liệt Sỹ)

·       Ngô Minh Hạt

Con gái:

·        Ngô Thị Nguyên

·        Ngô Thị Nhân

Ba người còn lại đều khỏe mạnh và trưởng thành cả.

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

GIA PHẢ HỌ NGUYỄN ĐỨC P2

 * Người con trai thứ 8 của cụ Đảm tức là người con trai thứ 4 của cụ Bà Hai tên là Nguyễn Đức Châu cụ là một tấm gương về cách sống, làm việc và học tập cho con cháu.  Ông sinh 06 – 10 -1926, hiện nay ông vẫn khỏe – thọ 71 tuổi.  Ông có 2 bà vợ : vợ cả là Ngô Thị Đối mất  21 – 09 – 1966 năm đó bà mới 27 tuổi.  Bà sinh được 3 người con gồm 2 trai và 1 gái.

Kế mẫu là bà là cụ bà Hoàng Thi Liêm bà sống và làm việc hết sức vì con cháu và luôn được con cháu yêu quí.  Bà hiện nay 74 tuổi vẫn còn khỏe mạnh, bà sinh được 4 người con : 2 trai + 2 gái. Như vậy cả 2 bà sinh được 7 người con gồm 4 trai và 3 gái cụ thể là :

·       Con trai Nguyễn Đức Đoàn sinh năm 1950

·       Con trai Nguyễn Đức Việt sinh năm 1953

·       Con trai Nguyễn Đức Lưu sinh năm 1960

·       Con trai Nguyễn Đức Hạnh sinh năm 1966

·       Con gái Nguyễn Thị Gái sinh năm 1950

·       Con gái Nguyễn Thị Phong sinh năm 1963

·       Con gái Nguyễn Thị Luyến sinh năm 1965

Ông sinh thêm được 1 người con gái Nguyễn Thị Bích các con của ông bà có Nguyễn Thị Gái mất năm 1966 mới sơ sinh còn nói chung các con của ông bà đều hạnh phúc, mạnh khỏe và vương chưởng cả rồi cụ thể là :

·       Anh Nguyễn Đức Đoàn sinh năm 1950 và mất vào 10 -1991 hưởng thọ 41 tuổi – vợ anh là Nguyễn Thị Quý sinh 1949.  Chị sinh được 5 người con gồm 3 trai và 2 gái cụ thể là :

·       Con gái Nguyễn Thị Loan

·       Con trai Nguyễn Đức Hoan

·       Con gái Nguyễn Thị Huyên

·       Con trai Nguyễn Đức Hùy

·       Con trai Nguyễn Đức Hiếu

v   Con gái cả của cụ Nguyễn Thị Loan sinh năm 1969 đã có chồng là Vũ Chí Đương sinh năm 1967 sau đó sinh được 2 cháu ngoại là Vũ Trí Đăng sinh năm 1990 + Vũ Chí Khoa sinh năm 1993.

v   Con trai thứ 2 là Nguyễn Đức Hoan sinh năm 1971 đã có vợ là Lê Thị Lụa sinh năm 1970 sau đó sinh được 2 người con gồm 1 con trai là Nguyễn Đức An sinh năm 1990  và 1 con gái là Nguyễn Thị Thu Hiền sinh năm 1996.  Là cháu nội của anh chị và chắt nội của ông bà. Đến năm 2012 kinh tế đã ổn định.

v   Con  gái  Nguyễn  Thị  Huyên  sinh năm 1977  đã    chồng  Hoàng Văn Sơn sinh năm 1971 và đã có 2 cháu trai là  Hoàng Thanh Mạnh sinh năm 1997 và  Hoàng Văn Dũng sinh năm 2000.

v   Con trai Nguyễn Đức Hùy sinh năm 1978 lấy vợ năm 2006 tên là Triệu Thị Ngọc Anh sinh năm 1978 sau đó sinh được 2 người con Nguyễn Triệu Đức Huy sinh năm 2007 mập mạp, khỏe mạnh và Nguyễn Triệu Đức Phát sinh năm 2009.

v   Con trai Nguyễn Đức Hiếu sinh năm 1980 lấy vợ năm 2011 tên là Võ Thị Hằng sinh năm 1979.  Năm 2012, anh đang công tác tại Quân Khu 7 và là Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam, vợ làm kế toán tại Bình Dương.

Do bệnh tật anh Nguyễn Đức Đoàn mất năm 1991. Lúc đó anh 42 tuổi, gia đình anh tương đối ổn định, nhà cửa gọn gàng.

Hiện nay, các con đều ổn định về kinh tế, các cháu đều được đi học đầy đủ. Vợ bác hiện đang ở cùng với anh Nguyễn Đức Hoan tại số nhà 125 - Ấp 1 – Tổ 7 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương. Trong các cháu hiện nay có cháu Khoa và Cháu Hiền học rất giỏi.

Hiện tại anh Nguyễn Đức Hoan là cháu trưởng có nhiệm vụ cúng các cụ nội tộc trong gia đình.

·             Anh Nguyễn Đức Việt sinh năm 1951 vợ anh là  Nguyễn Thị Tới sinh năm 1954 chị sinh được 4 người con gồm 3 trai và 1 gái cụ thể là :

·       Con trai Nguyễn Đức Nam

·       Con trai Nguyễn Đức Ninh

·       Con trai Nguyễn Đức Giang

·       Con gái Nguyễn Thị Hồng

v               Con trai đầu của chị Nguyễn Đức Nam mất năm 1991 do bệnh liên quan đến thần kinh.  Lúc đó cháu mới 15 tuổi.  Ngày giỗ 21 -12 hàng năm.

v               Con trai Nguyễn Đức Ninh sinh năm 1978 học phổ thông hết lớp 5 rồi nghỉ tham gia lao động sản xuất cùng với gia đình. Vào năm 2008 anh bị phát hiện mắc bệnh Ung thư phổi và hạch lao, nhưng nhờ gia đình chữa trị đến năm 2009 anh đã khỏe mạnh trở lại. Kết hôn năm 1999 với vợ tên là Nguyễn Thị Hương sinh năm 1983. Chị sinh được 2 cháu trai là Nguyễn Đức Thành sinh năm 2000 và Nguyễn Đức Công sinh năm 2005 cháu học rất giỏi.

v               Con trai Nguyễn Đức Giang sinh năm 1981 kết hôn vào năm 2010 với chị Đỗ Thị Hường sinh năm 1983. Sinh được cháu trai bụ bẫm Nguyễn Gia Minh năm 2010. Hiện nay anh chị là Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam và anh đang công tác tại UBND Xã Tân Hiệp – Phú Giáo - Bình Dương còn chị đang công tác tại UBND Huyện Phú Giáo – Bình Dương.

v               Con gái Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1983 kết hôn năm 2010 với anh Đỗ Quốc Vũ sinh năm 1982. Anh chị sinh được bé gái Lâm Khả Vy. Hiện nay chị đang là Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam và công tác tại Trường Mầm non Tân Hiệp.



Vào năm 2001 Anh Nguyễn Đức Việt phát hiện mắc phải bệnh Ung thư trung thất, gia đình đã chạy chữa nhiều nơi từ nam ra Bắc nhưng chỉ kéo dài tuổi thọ của anh đến ngày 10 – 07 - 2006.

Hiện nay các con anh đều có nhà cửa hoàn chỉnh gọn gàng, kinh tế khá ổn định. Con cháu sung túc. Gia đình đang cư ngụ tại Ấp 1 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.

·             Anh Nguyễn Đức Lưu sinh năm 1960.  Hiện nay anh 53 tuổi khỏe mạnh anh là Đảng viên Đảng Cộng Sản  Việt Nam công tác chính quyền và hiện đang giữ chức Chủ tịch Ủy Ban xã, trực tiếp làm trưởng công an xã Tân Hiệp – huyện Phú Giáo – tỉnh Bình Dương. Anh vào Miền Nam làm kinh tế năm 1987 tại Tân Hiệp – Đồng Phú – Sông Bé, sau đó thấy được đây là vùng đất màu mỡ, đất rộng người thưa, tiềm năng kinh tế tốt nên đã vận động anh em nội ngoại 2 bên cùng vào làm kinh tế. Đến nay, các gia đình anh em nội ngoại đều ổn định về kinh tế, có của ăn của để và con cháu sung túc. Vợ anh là Đoàn Thị Tâm – 49 tuổi, hiện nay vẫn khỏe mạnh, chị là hậu phương vững chắc của gia đình và sống theo những điều Phật dạy, chị cũng dạy bảo các con và cháu hướng Phật để có cuộc sống bình an và sung túc. Chị sinh được 3 người con gồm 2 trai và 1 gái cụ thể là :

·       Con trai Nguyễn Đức Hà sinh năm 1985, anh học hết THPT sau đó theo học về Chuyên ngành máy tính vào năm 2007. Năm 2010 anh kết hôn với chị Dương Thị Trang sinh năm 1993 sau đó anh chị phụ giúp bố mẹ công việc nương rẫy của gia đình.

·       Con trai Nguyễn Đức Hiệp sinh năm 1987, anh tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM vào năm 2010 sau đó thành lập công ty và tự kinh doanh ở Thủ Đức – TPHCM.

·       Con gái Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1989, chị tốt nghiệp Đại học Công Nghệ Thông Tin Gia Định vào năm 2011.

v       Các con đều khỏe mạnh được học hành đến nơi đến chốn. Gia đình hiện nay khá ổn định, nhà cửa xây tương đối kiên cố gọn gàng.  Tiện nghi sinh hoạt tương đối đầy đủ - một trọng trách lớn đối với gia đình anh là con trai thứ ba nhưng anh chị nhận nuôi bố mẹ và lo những ngày giỗ tết các cụ khi bố mẹ còn sống ( vì bố là con trưởng ).

·       Anh Nguyễn Đức Hạnh sinh năm 1964 vợ anh là Ngô Thị Thà sinh năm 1968. Hiện nay vẫn mạnh khỏe, chị sinh được 3 người con gồm 2 trai và 1 gái cụ thể là :

·       Con gái  Nguyễn Thị Hằng sinh năm 1986, được học hành đầy đủ hiện nay đang công tác tại Trung tâm y tế dự phòng Quận 9  - TPHCM

·       Con trai Nguyễn Đức Phước 1988 cùng bố mẹ chuyển từ Phú Giáo – Bình Dương lên Krong Nang – Daklak để trồng café, lấy vợ năm 2011. Vợ anh tên là Lê Thị Nga sinh năm 1992.

·       Con trai Nguyễn Đức Tiến sinh năm 1991, hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào cuối năm 2011. Hiện đang ở cùng gia đình ở Daklak

v       Hoàn cảnh gia đình anh chị hiện nay cũng tương đối ổn định.  Xây dựng nhà cửa đàng hoàng, khang trang kinh tế khá ổn định.  Hiện nay gia đình đang ngụ tại Thon Quyết Tâm – Xã Eatan – Krong Nang – Dak Lak

·       Chị Nguyễn Thị Phong 37 tuổi, chồng chị là Ngô Minh Kỉu 36 tuổi.  Hiện nay anh chị vẫn mạnh khỏe cả chị sinh được 2 người con trai là

·       Con trai Ngô Minh Long

·       Con trai Ngô Minh Ngọc

v       Các con chị hiện nay đều mạnh khỏe cả. Con trai Long của chị lao động rất ngoan và khỏe, con trai Ngọc hiện nay đang học lớp 4 phổ thông.  Gia đình anh chị hiện nay tương đối ổn định, tuy nhà cửa chưa làm được nhưng căn cứ vào tiềm lực và khả năng, tư liệu của anh chị thì có đủ điều kiện để xây dựng vào những năm tới.

·       Chị Nguyễn Thị Luyến sinh năm 1964 49 tuổi chồng chị là Nguyễn Văn Dâu sinh năm 1961 tại xã Đức Giang – Yên Dũng – Hà Bắc 52 tuổi vợ chồng anh chị vào miền nam làm kinh tế theo anh chị năm 1996 tại xã Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương, vợ chồng anh chị đều mạnh khỏe cả và chị sinh được 4 người con 3 gái + 1 trai cụ thể là :

·       Con gái Nguyễn Thị Lan sinh năm 1982 ở nhà phụ bố mẹ từ sớm nên phải nghỉ học, lập gia đình vào năm 2003 với anh Nguyễn Văn Quý sinh năm 1982  ở cùng quê. Sau đó anh chị sinh được 2 người con, Nguyễn Thị Thanh Thảo sinh năm 2006 và Nguyễn Tiến Dũng sinh năm 2009.

·       Con gái Nguyễn Thị Phương sinh năm 1985 được học hành đầy đủ sau đó học theo ngành Y vào năm 2007, khi hoàn thành khóa học chị lập gia đình với anh Tạ Văn Nhàn sinh năm 1978 ở cùng quê. Anh chị sinh được  1 người con tên là Tạ Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 2010.

·       Con trai Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1987 được học hành đầy đủ, hiện tại đang theo học tại Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM.

·       Con gái Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1989, được học hành đầy đủ, tốt nghiệp Cao Đẳng Công Thương năm 2010 và làm việc tại TPHCM.

v       Các con của chị hiện nay đều được ăn học đến nơi đến chốn riêng có con gái Lan nghỉ học tham gia lao động sản xuất với bố mẹ.  Gia đình chị thuộc vào khá ổn định kinh tế hàng năm đủ ăn có dư chút ít.  Nhà cửa xây dựng tương đối kiên cố gọn gàng cả rồi.  Tiện nghi sinh hoạt anh chị mua sắm toàn những thứ gỗ quí thuộc loại thứ thiệt cả. Hiện nay anh chị đang sống cùng các con tại số 13 – tổ 3 - ấp 2 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.

·       Chị Nguyễn Thị Bích sinh năm 1967. Hoàn cảnh chị trái ngang, gia đình chị ở xa anh em dòng họ nên kinh tế không phát triển nhiều. Chồng chị là Ngụy Văn Thư.  Chị sinh được 3 người con gái :

·       Con gái Ngụy Thị Nga

·       Con gái Ngụy Thị Hương

·       Con gái Ngụy Thị Giang

v   Gia đình chị hiện đang ở Đaklak, đến năm 2010 các con của chị đều đã lập gia đình, theo chồng và tương đối khá giả hơn bố mẹ.

 

·       Chị Nguyễn Thị Gái sinh vào 07 – 1966 đến 02 – 1967 mất lúc đó mới hơn 7 tháng. Ngày giỗ 08 – 02 hằng năm.

* Con trai thứ 3 của cụ là Nguyễn Đức Thái sinh năm 1929 năm 2012 cụ vẫn khỏe thọ 84 tuổi. Vợ ông là bà Lê Thị Quy. Ông bà sinh được 7 người con 3 trai và 4  gái cụ thể là :

·       Nguyễn Đức Lâm sinh năm 1958

·       Nguyễn Đức Tuấn sinh năm 1964

·       Nguyễn Đức Tình sinh năm 1970

·       Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1961

·       Nguyễn Thị Bé sinh năm 1965

·       Nguyễn Thị Hữu sinh năm 1968

·       Nguyễn Thị Chung sinh năm 1974

     Đến nay các con trai gái của ông đều đã vương chưởng, có gia đình riêng và đều đã có con cái cả rồi như :

·       Anh Nguyễn Đức Lâm sinh năm 1958 vợ anh là Nguyễn Thị Vui sinh năm 1958 là người cùng làng anh chị được 4 người con 3 trai và 1 gái cụ thể là

v   Nguyễn Đức Anh Trường sinh năm 1983

v   Nguyễn Đức Ba sinh năm 1986

v   Nguyễn Đức Quỳnh sinh năm 1991

v   Nguyễn Thị Bẩy sinh năm 1989

Các cháu của anh chị đều đã trưởng thành, đến năm 2005 anh cả đã lập gia đình với chị Trần Thị Châm là người cùng xã sinh được người con tên là Nguyễn Thị Lan Ngọc vào văm 2006, hiện tại anh chị đang lập nghiệp tại Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương, còn các em vẫn đi học. Anh mắc bệnh Ung thư đường ruột năm 2006, gia đình tận tình cứu chữa nhưng đến năm 2007 anh mất vào ngày 13 – 03. Chị và các con hiện tại đang cứ ngụ tại Lục Nam  - Bắc Giang.



·       Anh Nguyễn Đức Tuấn sinh năm 1964 vợ anh là Nguyễn Thị Viễn sinh năm 1964 anh chị được 5 người con 3 gái và 2 trai cụ thể là

v   Nguyễn Thị Giang sinh năm 1987

v   Nguyễn Thị Vân sinh năm 1989

v   Nguyễn Thị Phương sinh năm 1991

v   Nguyễn Đức Thanh Nam sinh năm 1993

v   Nguyễn Đức Dương  sinh năm 1999

           Riêng có cháu Phương là con gái thứ 3 của anh chị mất năm 1996 lúc cháu mới 4 tuổi.  Còn các cháu khác còn lại khỏe mạnh và đang đi học phổ thông. Hiện tại gia đình anh đang cư ngụ tại số 148  - tổ 7 - ấp 1 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương. Kinh tế gia đình khá giả và con cái được học hành đầy đủ.

·       Anh Nguyễn Đức Tình sinh năm 1970 vợ anh là Đỗ Thị Họa sinh năm 1971 anh chị được 3 người con 2 gái và 1 trai cụ thể là.

v   Nguyễn Thị Ánh sinh năm 1993

v   Nguyễn Đức Tân sinh năm 1995

v   Nguyễn Thị Thu Uyên sinh năm 2006

              Hiện tại gia đình đang cư ngụ tại số 3  - ấp 2 – Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương. Các cháu đều khỏe mạnh và đang đi học, kinh tế gia đình tương đối khá giả, có của ăn của để.

·       Chị Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1961, chồng chị là Phạm Văn Năm sinh năm 1963 anh chị sinh được 4 người con 3 gái và 1 trai cụ thể là. Người con gái lớn sinh năm 1988 mất khi mới 8 tháng tuổi.

v   Phạm Thị Hiền sinh năm 1990

v   Phạm Văn Quang sinh năm 1992

v   Phạm Thị Thêm sinh năm 1994

Các cháu  khỏe mạnh, Cháu Hiền và cháu Quang học đến lớp 9 nghỉ ở nhà tham gia lao động sản xuất, còn cháu Thêm đang học lớp 12.  Kinh tế gia đình ổn định và cư trú tại Lục Nam – Bắc Giang.



·       Chị Nguyễn Thị Bé sinh năm 1965 chồng chị là Ngô Văn Hiện sinh năm 1964 anh chị được 3 người con 2 người con gái và 1 người con trai.

v   Ngô Thị Huệ sinh năm 1991

v   Ngô Văn Hiệp sinh năm 1993

v   Ngô Thị Hoài sinh năm 1996

Cháu Huệ mất năm 2002, lúc cháu đang học lớp 5. Còn 2 cháu còn lại đang đi học. Kinh tế gia đình anh chị ổn định và cư ngụ tại Lục Nam – Bắc Giang.



·       Chị Nguyễn Thị Hữu sinh năm 1968 chồng chị là Phạm Văn Mạc sinh năm 1969 anh chị được 3 người con gái.

v   Phạm Thị Trang sinh năm 1992

v   Phạm Thị Thương sinh năm 1995

v   Phạm Thị Thảo sinh năm 2000

Các cháu đều đang đi học và khỏe mạnh. Kinh tế gia đình Anh chị ổn định, hiện tại đang cư ngụ tại Tân Hiệp – Phú Giáo – Bình Dương.

·       Chị Nguyễn Thị Chung sinh năm 1974 là con gái út của ông hiện nay đã lập gia đình năm 1998 với anh Nguyễn Văn Tân sinh năm 1971 sinh được 2 người con 1 trai và 1 gái.

v   Nguyễn Trung Kiên sinh năm 1999

v   Nguyễn Thị Chiêu Anh sinh năm 2002

              Hiện tại 2 cháu đang đi học, còn anh chị đang cư ngụ tại quê chồng là Nam Đàn – Nghệ An. Kinh tế tương đối ổn định.

* Con trai thứ 4 của cụ là Nguyễn Đức Út sinh năm 1932 mất năm 1950.  Lúc đó anh mới 18 tuổi.  Bị giặc Pháp tấn công càn quét, bị trúng đạn nên anh hy sinh.



DANH SÁCH GIA TỘC CỦA CỤ TỔ NGUYỄN PHÚC ĐƯỜNG



Để lại cho các con cháu mai sau, còn từ đời cụ thủy tổ ( Bố ) trở về trước đã có các ngành các chi lo cúng bái.  ( Thí dụ ngành này anh Tư là trưởng Ngành vì bố mẹ anh này là con trưởng ).

              Còn chi học trước kia là giao cho ông Du nay ông Du chết giao cho con là anh Lượt làm Trưởng họ Nguyễn Đức.

              Còn đây chỉ ghi một gia tộc của một cụ tổ mà con cháu hiện nay đang phải thờ cúng như :

              Cụ tổ ông : Nguyễn Quý Công tự Khúc Đường

              Cụ tổ bà   : Ngô Thị Hiệu, Hiệu Riệu Niệm.  Cháu trưởng hiện nay là ông Nguyễn Đức Châu.  Cụ ông cụ bà sinh được 4 người con 3 gái + 1 trai.  Cụ thể là :

·       Nguyễn Thị Dội

·       Nguyễn Thị Đống

·       Nguyễn Thị Lắm

·       Ông Nguyễn Đức Đảm

Ông là trưởng tộc vì có 1 ông là trai.  Ông lấy 2 bà vợ

§        cả là  Lê Thị Phụ

§       Bà hai là Nguyễn Thị Nhâm

Hai bà sinh được 10 người con 6 gái và 4 trai.  Bà cả sinh được 3 gái và 1 trai.  Bà hai sinh được 3 gái và 3 trai.  Đến năm 1948 ông con cả là Nguyễn Đức Mậu đi bộ đội chống Pháp đến tháng 11 – 1954 bị hy sinh tại mặt trận việc gia tộc giao lại cho ông Nguyễn Đức Châu là con trai lớn của Bà Hai làm trưởng tộc để thờ cúng tổ tiên nội ngoại cho đến nay.



Bây giờ kể đến hoàn cảnh lịch sử cuộc đời ông

              Ông sinh ngày 06 – 10 – 1926.  ( Tức sinh năm Đinh Mão ) ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân hiền lành kể cả cụ sinh ra ông trở về trước cũng vậy chỉ chuyên nghề làm lụng cày thuê cuốc mướn, không ai được học hành gì cả vì 2 cụ bà sinh các bà trước đều là con gái, đến ông là thứ 7 mới là con trai lại là con của cụ Hai nhưng là con trai đầu của gia đình, nên được các cụ quí mến nuông chiều đến năm 1934 ông mới 8 tuổi đã được đi học chữ Hán ( Nho ).  Lúc đó phong trào chữ Hán đang được mở rộng, ông rất ham học ông học liền 5 năm đến 1939 ông thấy phong trào học chữ Việt được khuyến khích ông xin chuyển sang học chữ Việt.  Lúc này ý cụ ông không muốn cho ông chuyển nhưng ông cứ tha thiết với cụ để xin chuyển trường.  Từ đó ông học suốt 4 năm đến năm 1943 có đợt thi bằng Tiểu học, ông được đi thi ông đỗ bằng Tiểu học năm đó ông 18 tuổi sau khi ông lãnh được bằng về trình làng để lĩnh phần thưởng ( vì làng đã có giải thưởng từ trước nhằm khuyến khích cho những ai học giỏi nếu thi đỗ có bằng thì làng thưởng cho bằng người có chức thư ký ở trong làng v. v. .  ( vì dân ít học ).  Cả làng từ trước đến nay mới có 4 người có bằng trong đó có cả ông đến cuối năm 1943 ông được dân bầu vào làm Trưởng Bạ thay cho ông cũ vì ông làm đã quá niên hạn ( các quan đã có thông báo ).  Ông làm trưởng bạ từ cuối năm 1943 được hơn 2 năm giữ điền địa cho dân sau đó Cộng sản bắt liên lạc với ông để hoạt động đến 08 – 1945 ông đem hết sổ sách nộp cho cộng sản rồi ông tham gia vào cách mạng ông xin nhập vào dân quân tự vệ đến 10 -1947 ông được bổ sung vào Ban Địa chính phụ trách đất đai của toàn xã đến tháng 08 – 1948 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

              Sau một thời gian ông hoạt động tích cực được công nhận là đảng viên chính thức.  Sau đó Đảng bộ bầu ông cấp ủy phụ trách địa chính và làm Trưởng ban thuế nông nghiệp toàn xã đến năm 05 -1950, huyện ủy Yên Dũng điều ông đi phụ trách dân công 5 xã là Trí Yên, Tân Dân, Dĩnh Kế, Thái Sơn, Dĩnh Trì.  Đi làm con đường Tam Canh đi giải phóng Điện Biên Phủ.  Sau khi tổng kết con đường đó ông về địa phương đang giảm Tô chia tách xã ra làm 2 là xã Chí Yên và Hồng Phong.

              Đến tháng 10 -1955.  Huyện ủy Yên Dũng điều ông đi công tác khu tự trị lúc đó và một số cán bộ của huyện đi cùng lên tỉnh thành lập Đoàn : do ông Nguyễn Thanh Quất lúc đó là T. V Tỉnh ủy Tỉnh đội trưởng Bắc Gian làm bí thư Đoàn ủy.  Lên công tác ở huyện Hữu Lũng sau đó đưa huyện Hữu Lũng về Lạng Sơn.

              Đến tháng 6 – 1956 về tổng kết khu tự trị và tinh giảm biên chế.  Trong lúc Hội nghị đang tổng kết không may cơn bão ập đến lúc đó ông xin về địa phương khi ông về đến gia đình nhà cửa bị đổ tan nát thóc bị đổ hết xuống sân nước lụt tràn vào, lúc đó bà mới sinh cháu gái thứ 3 mới được 2 tháng thời gian ở còn non nhưng bà tiếc của ngâm người dưới nước suốt mấy ngày sau đó bà lâm bệnh, gia đình thuốc thang hết đó đây không khỏi đến ngày 21 – 09 – 1956 bà lâm bệnh nặng và qua đời, để lại cho ông 1 mẹ già, 3 con nhỏ gồm 2 trai và 1 gái trong đó con lớn mới 6 tuổi, con thứ 2 mới 3 tuổi, con gái mới 2 tháng tuổi, gia đình ông lúc này gặp phải 1 tai nạn vô cùng đau xót.

              Khi bà mất đi mới có 27 tuổi đời mà ông lúc đó mới 30 tuổi cảnh gà trống nuôi con.  Hơn nữa trong lúc này ông đang công tác mà cảnh gia đình ông gặp những điều ngang trái khiến ông phải suy nghĩ rất gay go vì cụ Bà già chỉ sinh được 1 ông anh là con trai ông đi bộ đội hy sinh năm 1954 tại mặt trận chống Pháp.  

              Em trai út của ông bị bệnh chết năm 1948 còn 1 ông em trai dưới ông lúc này hoàn cảnh gia đình cũng nặng gánh.

              Có nhiều điều ông suy nghĩ rất khó xử, khó giải quyết có những buổi ông đã tâm sự với 1 số ông là bạn bè thân thuộc chuyển sang dạng tiêu cực ( Thôi đắc chữ Chung thất kỳ chữ Hiếu vậy bản thân nghĩ cũng không nào khác ).

              Trước cảnh đau thương này được các ông bà, anh chị em nội ngoại, học hàng làng xóm.  Bạn bè đến động viên ông phải khắc phục mọi mất mát đau thương thành hành động cách mạng thì mới có thể cứu vãn được tình thế.

              Sau đó ông tiếp thu các ý kiến và chấp thuận sự đóng góp trung thành của các bà chị trong gia đình, được ít ngày sau ông xây dựng với bà Hai về để kế mẫu và nuôi mẹ già thay ông để ông yên tâm hoạt động.  Sau thời gian ông ổn định công việc trong gia đình rồi ông bắt tay vào hoạt động công tác ở địa phương, ông tham gia vào Đảng ủy xã và được bầu làm chủ tịch Ủy ban nhân dân xã  ông bầu với Đảng với dân đắp bổ sung 7 Km đê bỏ lại từ thời kì Phủ Khúc để bảo vệ 900 mẫu lúa Chiêm được đân đồng tình nhất trí công trình thi công từ đầu năm 1957 đến tháng 2 – 1958 con đê đã cơ bản hoàn thành thì tỉnh ủy Bắc Giang quyết định điều lên Ban nông nghiệp làm công tác xây dựng và củng cố phong trào hợp hợp tác xã nông nghiệp trong toàn tỉnh v. v. .  Suốt 19 năm liên tục ông ở cơ quan tham mưu cho tỉnh ủy Hà Bắc.

              Đến năm 1974 ông được phân công về xây dựng lại cơ quan ở thị xã Bắc Giang không may ông bị tai nạn lao động (đổ tường đẹn phải nên ông bị gãy chân, sau thời gian cơ quan chữa trị khỏi sức khỏe cũng giảm. Hơn nữa tuổi đời năm đó tôi cũng đã gần 60 tuổi nên tôi đề nghị cơ quan cho tôi xin về nghỉ hưu được cơ quan chấp nhận.

              Đến tháng 6 – 1976 tôi được về nghỉ hưu tại địa phương xã Lạng Sơn khi mới về nghỉ hưu được ít ngày thì Đảng bộ và nhân dân địa phương đưa vào lãnh đạo sản xuất nông nghiệp trực tiếp làm Chủ nhiệm Sản xuất 4 năm liền, nhưng vì đất đai thì có hạn mà dân số ngày càng cao nên năng suất không sao đáp ứng kịp hơn nữa quê hương lại ở vào úng ngoại đê. Hàng năm chỉ cấy được 1 vụ lúa chiêm. Hồi đó ông có suy nghĩ nếu cứ kiểu làm ăn thế này. Chỗ ở bó hẹp lại mà hoàn cảnh gia đình đông con mình phải hy sinh đời bố để củng cố đời con có như vậy mới mở mang cho con cháu sau này được.  

              Một hôm ông tọa đàm với các con và cháu, được con cháu thấy ra lẽ phải đến tháng 10 -1987 một sô các anh con trai đem vợ con vào nam như : vợ chồng anh Lưu + anh Hạnh.

              Rồi mấy năm sau các em làm ăn ổn định lại ra đón tiếp mấy anh vào, các con cháu chịu khó làm ăn nên đời sống cũng khá hơn.  

              Còn về phần cá nhân và thành tích của ông từ khi biết làm người đến nay :

o      Những lúc ở nhà hoặc lúc đi công tác về thường xuyên giáo dục anh chị em con cái trong gia đình phải biêt đoàn kết thương yêu nhau phải biết quí mến bố mẹ, kính trọng ông bà.

o      Những năm ông còn trẻ tuổi đi công tác xuống cơ sở các nơi trong tỉnh ông luôn giữ lời dạy của Bác Hồ ( Đi dân nhớ ở dân thương ) đôi lúc về thăm nhà đối với bà con tình làng lối xóm lúc nào cũng vui vẻ đoàn kết dù là Bắc hay Nam cũng vậy.  

o      Từ năm tôi được về nghỉ hưu đến nay tôi luôn chấp hành các chỉ thị nghị quyết của Đảng và Chính phủ rất nghiêm túc như sinh hoạt Đảng và đóng Đảng phí đều đặn.

o      Tích cực tham gia xây dựng phong trào xã hội người cao tuổi, giữ vững phong trào gia đình mẫu mực con cháu hiếu thảo

o      Về chế độ khen thưởng

·       Năm 1954 ông được Chính Phủ tặng 1 Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất.

·       Năm 1975 ông được Chính Phủ tặng 1 Huy chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

·       Năm 1955 ông được chính phủ tặng 1 kỉ niệm chương

·       Năm 1957 đến 1960 ông 3 lần được trao giấy khen + 2 lần tỉnh cấp bằng khen.

·       Năm 1977 Huyện Tân Uyên tặng ông 1 bằng khen Gia đình Mẫu mực Con cháu Thảo hiền

·       Căn cứ vào những ngày giỗ trước mắt và sau này của gia tộc ông phân cụ thể cho các con cháu là Tiến Chủ  ( Trưởng ) còn đồng gia quyến là những người phải tuân theo giỗ, ngoài ra có người thuộc nội ngoại nhớ đến, hoặc do Tiến Chủ thỉnh ( mời ) có nén nhang đến cúng cụ ……. .

Chị Quý con dâu cả

Cháu Nguyễn Đức Hoan là cháu trưởng của học tộc trước mắt và sau này Chước Tiên cúng cụ tổ hàng năm và các giỗ sau đây:

-         Ngày 11 – 02  giỗ cụ tổ ông tên là Nguyễn Quí Công tự Phúc Đường.

-         Ngày 21 – 03 giỗ cụ tổ bà tên là Ngô Thị Hiệu : Hiệu Riệu Niệm.

-         Ngày 28 – 11 giỗ cụ ông ( là con cụ tổ ) tên là Nguyễn Quí Công tự Phúc Đang

-         Ngày 24 – 06 giỗ cụ bà cả tên là Lê Thị Phụ Hiệu Riệu Từ

-         Ngày 16 – 03  giỗ cụ Bà Hai tên là Nguyễn Thị Nhâm Hiệu Riệu Dần.

-         Ngày 19 – 05 giỗ cụ bà là con gái của cụ tổ vì không có con, tên là Nguyễn Thị Lắm.

Số người theo giỗ các cụ :

Giỗ cụ ông 11 -02 ( Bác Quang )

Giỗ cụ bà   21 -3 ( Bác Quang )



Giỗ ông 28 – 11 ( Bà Hạt )

Giỗ bà 24 – 6 ( Bà Hạt )

Giỗ bà trẻ 16 – 3 ( Bà Hạt )

 Anh Nguyễn Đức Việt con trai thứ là Tiến Chủ ( trưởng ) + đồng gia quyến Chước Tiên cúng cụ ngoại sinh ra mẹ già.

              Ngày 28 - 02Giỗ cụ ông tên là Ngô Văn Chừng

              Ngày 04 - 11 Giỗ cụ bà tên là Vũ Thị Can

              Ngày 21 - 9 Giỗ mẹ già (đẻ)  tên là Ngô Thị Đối

              Ngày 04 -02 Giỗ em tên là Nguyễn Thị Gái

Số người theo giỗ mẹ già ngày 21 – 9

-         Chị Quý

-         Chị Phong

-         Anh Lưu

-         Chị Luyến

-         Anh Hạnh

Anh Nguyễn Đức Lưu con trai thứ Tiến Chủ ( trưởng ) cúng các ông bà 15- 5 Giỗ bà Nguyễn Thị Hỵ là chị gái của bố ( tức bà cô )

              Tiếp tục nuôi cha mẹ cho đến khi cha mẹ qui tiên tổ và thờ cúng cho  đến khi thay quần đổi áo lúc đó các anh chị là con và đồng gia quyến lúc đó sẽ bàn cụ thể ….

              Ngày 17 -12 giỗ cụ ông ngoại đẻ ra mẹ 07 – 5 giỗ cụ bà

Anh Nguyễn Đức Hạnh con trai thứ Tiến Chủ ( Trưởng ) cúng các ông

              Ngày 20 -11 giỗ ông Nguyễn Đức Mậu là anh trai của bố và là liệt sỹ chống Pháp.

              Ngày 08 -11 Giỗ ông Nguyễn Đức Út là em trai của bố.









VIÊN HIỆU TÍNH NGÀY PHÚC SINH CỦA CÁC THÁNG



Tháng giêng tháng dần : ngày dậu

Tháng hai tháng mão    : ngày mão

Tháng ba tháng thìn    : ngày tuất

Tháng tu tháng tỵ       :  ngày thìn

Tháng năm tháng ngọ : ngày hợi

Tháng sáu tháng mùi : ngày tỵ

Tháng bảy tháng thân : ngày tý

Tháng tám tháng dậu    : ngày ngọ

Tháng chín tháng tuất  : ngày sửu

Tháng mười tháng hợi : ngày mùi

Tháng mười một tý     : ngày dần

Tháng mười hai tháng sửu: ngày thân

BẢN KÈM THEO NHỮNG NGƯỜI CHỨNG KIẾN 
BIẾT ÔNG MẬU HY SINH.

Ø          Tôi Ngô Thị Bằng là vợ ông Nguyễn Văn Mậu, lúc tôi lấy ông Mậu tôi mới 18 tuổi mẹ chồng tôi mất sớm.  Vợ chồng tôi ở với bố mẹ tôi được 2 năm thì ông Mậu đi bộ đội ở Tiểu Đoàn 61. Được 2 năm, năm 1950 bố chồng tôi chết bệnh lúc này ông Mậu vẫn ở bộ đội đến năm 1954 huyện và xã có tin báo về gia đình là chồng tôi chiến đấu với giặc Pháp và hy sinh ở Bốt   ……… cầu Quất Lâm 6 1954.  Sau đó huyện và xã cùng các ban ngành đoàn thể trong xã đến tổ chức lễ truy điệu cho chồng tôi tại gia đình.  Được bà con dân làng hàng xã đến dự rất đông đủ.  Trong lúc đó được cấp cho một tấm bằng tổ quốc ghi công và bằng huân chương kháng chiến hạng ba.  Sau khi chồng tôi hy sinh được ba năm 1956 lúc đó tôi mới 25 tuổi mà con cái chưa có.  Tôi trình bày với gia đình nhà chồng tôi xin về vì con trẻ nhà chồng vui vẻ thỏa thuận có nhất trí tôi giao lại hết tài sản bên nhà chồng cho ông Nguyễn Đức Châu là em trai ruột của chồng tôi để thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ và ông Mậu từ bây giờ đến sau này.

Bản khai và đơn đề nghị của ông Châu là đúng sự thật đề nghị các cơ quan nhà nước giải quyết cho.